FacebookTwitterGoogle+LinkedIn

MƯỜI HAI BẾN NƯỚC

  Phan thị Trúc

Trường Trung Học Triệu Phong / Nguyễn Hoàng Quảng Trị .                                                                                                                                                                                    

Hôm đó vào xế trưa mấy chị em tôi vừa mới đi học về, tôi học lớp đệ lục Trường Trung Học Triệu Phong, đang quây quần  bên bàn ăn thì Mạ tôi bước vào nhà theo sau là một cô gái trạc tuổi đôi mươi, người thấp có mái tóc đen huyền đến tận ngang lưng, cột túm lại phía sau, một tay cầm cái giỏ tre tay kia kẹp nón lá bên hông, Mạ nói võn vẹn một câu: -“đây là o Thẻo, o ở tạm đây vài bữa rồi đi, xong Mạ vội vã dẫn o lên gác.

Tối hôm đó trong bữa cơm mọi người im lặng hơn so với mọi ngày, tôi có dịp nhìn chị kỷ, thấy chị có khuôn mặt trái xoan, nước da hơi ngâm đen với đôi mắt buồn xa vắng như ẩn chứa một nỗi buồn thầm kín. Sau bữa ăn, chúng tôi lên gác học bài chị cùng lên theo. Gia đình tôi có mười hai người con cả thảy, bảy gái năm trai, chị đầu ở Đà Nẵng, anh lớn thứ nhì là lính đơn vị Sư đoàn I Bộ Binh, anh  thứ tư đang học Trường Nguyễn Hoàng, đứa em trai út hai tuổi.

Mạ kê một cái giường nhỏ cho o gần giường tôi. Đêm hôm đó đứa em kế đánh thức tôi dậy vì nghe tiếng o khóc sụt sùi, tôi rón rén đến bên o đưa tay đập nhẹ lên vai: -“o Thẻo! o Thẻo! “, tôi kêu và hỏi răng khóc rứa? o không nói càng khóc lớn hơn, tôi nói o đừng khóc để Mạ và Chú ngủ (Người Hoa gọi Ba bằng Chú), nói xong tôi về giường và thiếp đi trong một giấc ngủ.

Hàng ngày Mạ đi chợ về bổn phận o Sô (Sô là người giúp việc cho gia đình) lo việc bếp núc, còn o Tuyền thì lo gánh nước và giặt giũ quần áo. Chợ Sãi có một cái giếng nằm phía sau Chùa Cỗ Thành, xóm trên xóm dưới đều tới đó gánh nước đặc biệt giếng nước trong veo, không có mùi phèn uống vào mát rượi tới ruột, nghe Mạ nói  gia đình o Sô và Tuyền rất nghèo ở tận Cửa Việt, cho con đi ở để kiếm ăn và trong nhà Chú Mạ, mấy anh chị em tôi ai cũng đối xử tử tế với họ , Mạ tôi rất thương mấy o hàng tháng còn cho  thêm mắm, muối, đường  đem về cho gia đình.

Tết Mậu Thân năm 1968 Việt cộng tấn công vào các tỉnh lỵ Miền Nam, Quận Triệu Phong cũng bị tấn công và Chợ Sãi đặt dưới quyền kiểm soát của Việt cộng. Hôm đó gia đình sum họp đầy đủ có anh tôi và cậu Nghiên (cậu Nghiên là em Mạ tôi, làm việc ở Sở An ninh Quân Đội) cũng về ăn Tết. Sáng mồng một anh tôi đứng trên gác nhìn xuống đường, thấy toàn là lính đội mũ cối, anh biết là Việt cộng đã tấn công vào quận Triệu Phong vô tới Chợ Sãi, Mạ lo lắng bảo anh và cậu leo lên nóc nhà nằm yên trên đó, khoảng vào xế trưa tiết mùa đông ở Quảng Trị lạnh buốt anh không chịu nỗi tìm cách xuống tầng dưới, mạ tôi đẩy anh vào cái tủ vải nằm yên ở trong đó, trong khi cả nhà cùng xuống núp dưới hầm. Mạ tôi nấu nước pha trà dọn bánh mứt, nghe tiếng gõ cửa vội ra mở thì thấy có ba anh bộ đội trong đó có cả o Sô, đứng ngay trước cửa, đang giải thích gì đó để không cho bộ đội vô nhà. Về sau Mạ tôi hay nhắc tới nhắc lui câu chuyện và thường nói: -“ở hiền gặp lành”.

Nhà tôi ở bên hông Chùa Cỗ Thành, Chùa có một cây đa rất lớn, bên cạnh có một cái am nhỏ cũ kỷ, Mạ nói  cái am đó rất linh thiêng.  Mạ kể năm tôi lên mười một tuổi đau một trận thập tử nhất sinh chạy hết thầy hết thuốc mà không lành, o Búa người hàng xóm cũng là bạn thân của Mạ o nói: -“Thím ơi, cháu bệnh nặng vậy e khó sống rồi khóc òa, Mạ nói còn nước còn tát, trời xui đất khiến Mạ đem hương đèn ra am khấn vái, Mạ nói không tin cũng không được. Đêm đó tôi từ từ tĩnh lại và cũng hết bệnh luôn. Vào đêm rằm ánh trăng xuyên qua kẻ lá, những cơn gió nhè nhẹ làm cành lá lung lay xào xạc tạo lên âm thanh giữa đêm khuya vắng lặng nghe rùng rợn. Thỉnh thoảng chị em tôi và mấy đứa con o Sõ em, chị Dung (bây giờ đang ở Cali), Quế thì ở Đông Hà Việt Nam, rũ nhau lên ngủ sân thượng nhà Chú Lộc (Chú Lộc là em của chú tôi) trùm mềm nhai kẹo đậu phụng, tới  nửa đêm có đứa hù dọa thấy ma, mấy chị em sợ qúa trùm mền tới đầu, không nhúc nhít ngo ngoe. Sáng dậy có đứa còn nói thấy những ánh sáng nhấp nhô khi ẩn khi hiện, những đốm lửa lập lòe rồi bay vụt lên không. Có nhiều đêm trời mưa lăn phăn, ánh trăng rằm bị đám mây che lúc ẩn lúc hiện, tôi thấy o Thẻo cũng đem hương đèn ra am thì thầm khấn vái cầu xin chi đó.

O Thẻo thường phụ Mạ tôi bếp núc trong nhà, có bữa o kho cá không biết sao o bị ói mửa, tôi méc với Mạ, Mạ nói không răng mô chắc o đau bụng, tối đó o nhịn ăn, lại đi ngủ sớm, Mạ sai tôi đem lên cho o một gói bánh quy nói o ăn đi kẻo đói. Tôi thấy o càng ngày càng mập ra và hay bị ói mữa, tôi nói với Mạ đem o đi nhà thương, Mạ nói “không chi mô” vài bữa nó lành. Thấy không còn dấu diếm được nữa, tối đó Mạ kêu chị em và  anh trai t ôi ngồi chung quanh giường Mạ nói: -“Con Thẻo hắn có mang!”. Đứa em gái giáp út (Mười) ngây ngô hỏi: -“ có mang là có con ha?”. Mạ tôi ừ rồi nói tiếp, sáng mô đi chợ Mạ cũng thấy o ngồi nơi góc đình, bữa đó mạ hỏi: – “O con ai mà sáng mô tui cũng chộ o ngồi đây”. O không nói nước mắt chảy đầm đìa, Mạ nói có chi thì cứ từ từ  nói, một chặp o nín khóc rồi nói: -“Con có mang Mạ con đuổi đi chừ con không biết ở mô. Mạ tôi trợn mắt nói con gái con giếc mà đi ngủ đình ngủ chợ không được mô, thôi đứng dậy theo bác, đó là ngày Mạ tôi dẫn o Thẻo về nhà, có đêm Mạ tôi lên gác trò chuyện với o rất lâu, sau này thấy o vui vẻ hơn mấy tháng trước.

Bụng o càng ngày càng to Mạ nói còn hai tháng nữa là o đẻ, Mạ sắp xếp cho o qua nhà mụ Muội để sinh nở. Ai cũng biết Mụ Muội có nghề sinh đẻ nổi tiếng ở vùng xóm Hà, Mụ có tiếng  mát tay, gặp đứa con khó khăn cở nào  mụ cũng đẻ được, Mạ tôi với Mụ rất thân tình  khi nghe Mạ kể chuyện Mụ nói:-“Chị đừng lo, tới ngày gần đẻ chị đem o qua đây”.

Rồi ngày đó cũng đến, một bé gái ra đời khoảng chừng 3 kilo, mũi cao miệng nhỏ tóc đen thui, xinh xắn. Ôm con vào lòng cầm tay Mạ o khóc, Mạ nói:-“ mi mới đẻ đừng khóc nghe, mẹ tròn con vuông là mừng rồi”. O nằm ở nhà mụ Muội được hai hôm thì Mạ đem o về nhà. Ngày thôi nôi của bé, chị em tôi rất vui vì được ăn xôi chè, gà xé phay, trong nhà sum họp đầy đủ có cả anh chị tôi ở Đà Nẵng ra thăm. Hôm đó ngồi ở bàn ăn có anh chị tôi và o Thẻo, Mạ kể lại câu chuyện cho anh chị nghe ngày mạ gặp o Thẻo, rồi những đêm an ủi, o tâm sự thật lòng với Mạ: -“Con và người đó quen nhau (o không nói tên) cũng người làng Bích La, vì nhà nghèo o phải nghĩ học năm mười bốn tuổi, làm nghề thợ may để phụ giúp gia đình, về phần anh, cha mẹ mất sớm ở chung với ông bác phụ việc đồng áng, không may bác lâm bệnh chết để anh bơ vơ không bà con họ hang. Buồn cho số phận, anh tình nguyện vào lính, đổi ra một đơn vị tác chiến lúc anh hai mươi mốt tuổi. Ngày ra trường, anh trở về thăm quê gặp o,. anh đem lòng thương nhớ. Rồi những buổi hẹn hò anh hứa với o sau chuyến hành quân này chúng ta sẽ xây dựng tổ ấm gia đình. Trước khi trở laị đơn vị o đã trao hết tình thương của o cho người đó và kết qủa o đã mang thai. O đợi chờ trông ngóng, anh vẫn bặt tin, Mạ o biết con gái mình có mang rất buồn, nhưng vì thương con Mạ  nói: “con daị cái mang, lỡ rồi thì cứ đẻ mà nuôi”. Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội thời đó nhất là ở miền quê không chấp nhận con gái mà họ gọi là chửa hoang. Còn cha o thì nạt: – “đi mô thì đi khuất mắt”. O biết cha buồn nói thế nhưng ông rất thương con. Làng xóm ai cũng xầm xì, o không muốn cha mẹ mình ngày đêm nghe những lời thị phi.

Đi khắp thế gian không ai thương bằng mẹ,

                                        Gánh nặng cuộc đời không ai khổ hơn cha.”

O quyết định ra đi khỏi thôn xóm, xin ở nhà ai đó cho đến ngày sinh nở, Mạ nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp: -“ O không nhà không cửa, o muốn con o sau này có một tương lai sáng sủa hơn, o nhờ Mạ nhắm ai quen biết, gia đình đức độ cho o gởi cháu nuôi giùm. Mạ nhìn anh chị tôi nói tiếp: -“ vợ chồng con có muốn mang cháu về nuôi không?”. O Thẻo nước mắt chảy dầm dề, anh chị tôi cũng không cầm lòng, một lát sau anh nói: -“Mạ cho vợ chồng con suy nghĩ đêm nay”. Sáng hôm sau Mạ tôi khoãn đãi cả nhà một bữa cháo long. Ở xóm trên có nhà mụ Thu làm nghề mổ heo, cứ sáng sớm đi mua thịt heo hoặc lòng thì laị được một soong nước “xit” đem về nấu cháo thì thật là tuyệt vời, chắc hồi hôm Mạ biết anh chị tôi đã nhận lời. O khóc những giọt nước mắt sung sướng vì biết rằng con mình đã có nơi ăn chốn ở, nhưng o cũng xót xa trong lòng khi biết rằng mai đây mình sẽ xa con. Chị tôi nhìn o Thẻo rồi hỏi: -“O có muốn đi theo tui để gần gũi cháu và lo cho cháu không?”. O mở tròn đôi mắt nhìn chị tôi, chị gật đầu, o ôm lấy Mạ và khóc, những giọt nước mắt sung sướng hạnh phúc. Em bé hình như cảm nhận được niềm vui của mẹ, em nở nụ cười. Cả nhà tôi sáng hôm đó rộn ràng mừng vui như một bữa tiệc liên hoan. Hai ngày sau, hai chiếc xích lô đợi trước hiên nhà để đưa anh chị và mẹ con o Thẻo lên tỉnh và đáp máy bay vào Đà Nẵng.

Sau khi có chỗ ăn ở yên ổn, anh chị tôi khuyến khích o về thăm gia đình, cha mẹ o rất vui mừng vì cảm thấy mẹ con o đã có nơi ăn chốn ở, mạ o cũng  cho o hay một tin buồn là anh ấy đã tử trận o chạy ra khóm tre già gần cái giếng nước ngồi bệt xuống đất nơi mà  con gái mà họ gọi là chửa hoang. Còn cha o: “đi mô thì đi khuất mắt” o biết cha buồn nói thế nhưng ông rất thương con. Làng xóm ai cũng xầm xì o không muốn  cha mẹ mình ngày đêm nghe những lời thị phi

Khi trở laị Đà Nẵng, vào một đêm trời không trăng sao, dân chúng đang ngủ yên giấc trong đêm khuya, thì những tiếng pháo kích từ phía tây của phi trường Đà nẵng rơi xuống thành phố như pháo nổ vào ngày Tết. Đạn rơi khắp các vùng Trưng nữ Vương và xóm Hoàng Diệu. Gia đình anh chị tôi ở Hoàng Diệu, tối đó o nằm sát đứa con một tuổi  đang mơ màng trong giấc ngủ thì một trái đạn ác nghiệt rớt ngay sau nhà, cả nhà xôn xao thức dậy trong nhà gồm có anh chị tôi, o Thẻo, cháu Nhung và anh tôi, bé Nhung sợ hải khóc thét lên, chị tôi đến giường ẩm bé và đánh thức o dậy, nhưng hỡi ôi, một mãnh đạn pháo kích oan nghiệt đã sa vào lưng o xuyên qua bụng. Đạn pháo kích vẫn rơi, ánh hoả châu bùng sáng cả vòm trời Đà Nẵng, anh chị tôi nhanh chóng đưa o vào bệnh viện, nhưng không kịp, o đã ra đi để laị một đứa con thơ ,số phận đứa bé hẫm hiu đã mất cha hôm nay laị mất mẹ.

Bé Nhung chỉ biết anh chị tôi là cha mẹ, cháu càng lớn càng xin đẹp ngoan hiền và chăm học, nay đã lập gia đình có hai con một trai một gái đang ở Đà Nẵng, theo nghề buôn bán, cháu làm ăn phát tài cửa rộng nhà cao, gia đình ấm cúng. Anh chị tôi đã kể lại cho cháu nghe cuộc đời của ba mẹ cháu và nơi an nghĩ ngàn thu của mẹ. Cháu thường hay viếng mộ mẹ và không quên ngày kỵ giỗ. Ông Bà ta thường nói: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Con người không ai biết được từ lúc sơ sinh cho đến ngày ra đi, cuộc đời thật là mỏng manh không ai biết được số phận của mình, tôi lại nhớ trong nhà Phật có baì thơ về thiền:

Ta nay ở trọ trần gian

                              Trăm năm về chốn xa xăm cuốí trời

                              Phú qúy văn hoa như mộng ảo

                              Sắc tài danh lợi tựa phù du

                              Bản lĩnh tài năng nên sự nghiệp

                              Nhân hòa đức độ tạo thành công.”

Khi tôi viết chuyện Mười Hai Bến Nước thì Chú tôi đã qua đời cách đây tám năm, hưởng thọ 83 tuổi. Chú không có cơ hội nghe kể lại câu chuyện mà Chú đã dính líu liên quan đến kiếp nhân sinh, số phận đời sống của một con người. Còn Mạ tôi thì đã trên chín mươi tuổi, tinh thần rất sáng suốt và minh mẫn. Những chuyện xưa, tích cũ nhớ rươì rượi như chuyện vừa xảy ra hôm qua, tôi ngồi bên cạnh Mạ, nắm bàn tay run rẩy yếu đuối của Mạ ôm vào ngực, đọc chậm rãi cho Mạ nghe câu chuyện gíup đời cứu người mà mạ đã làm cách đây hơn nữa thế kỷ. Nghe xong Mạ tôi ngẫm nghĩ chốc lát rồi nói:-“Tau chỉ biết kiếm cho oThẻo có nơi để nương tựa, có cơm ăn, áo mặc, con Nhung ra đời trong một hoàn cảnh giặc giã chiến tranh loạn lạc, con Nhung ngày nay giàu sang phú qúy có lẽ đó là phước đức của cha mạ nó nhiều đời, nhiều kiếp để lại cho nó”. Trong  phòng  ngủ của Mạ, mấy chị em ngồi bệt trửa sàn nhà yên lặng chăm chú lắng nghe, bỗng dưng nỗi lên tiếng cười rồn rã đứa em áp út (dì Mười), bây giờ đã trên năm mươi tuổi, đưa tay lên nói:-“Nghe câu chuyện tôi rất cảm động và hãnh diện cho đại gia đình miềng, ngày mai tôi đãi cả nhà đi ăn điểm sấm để mừng cho cháu Nhung”.

Con người được coi như là một một phần tử nhỏ bé như một hạt cát trong sa mạc hay là một vị sao chói sáng trên bầu trời, cuộc đời của con người là một kiếp phù du, sống chết giàu nghèo sang hèn là do số mệnh, cũng không nên buồn phiền hay tự hào ca ngợi, mà coi đó là một món qùa Trời Phật Thượng Đế ban cho ta. Hạnh phúc là một khái niệm tinh thần trừu tượng tùy theo vai trò và vị trí từng cá nhân, từng giai cấp trong xã hội và có những quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Chúng ta phải nhận lấy tự an ủi hay chia sẻ chính mình sẽ dẫn đến hạnh phúc. Tình thương và hạnh phúc là ước mơ và khát vọng của người đời, ngày nào ta còn sống tức là ta còn có cơ hội để cảm nhận tình thương và hạnh phúc của cuộc đời. Cuộc sống của con người trên cõi ta bà đầy ô trọc, còn dính líu với trần gian là còn chịu hằng hà sa số những phiền muộn, những lo âu. Hãy quên đi tất cả để có đời sống tự taị an nhiên và thanh thản.

Xuân Đinh Dậu 2017